Mấy hôm nay bài thơ “Bắt nạt” trong sách ngữ văn lớp 6 lại hot trở lại, bởi năm nay Bộ giáo dục yêu cầu sử dụng một bộ sách giáo khoa duy nhất là Bộ kết nối tri thức. Sở dĩ mình nói hot trở lại là bởi bài thơ này đã có nhiều thông tin trái chiều từ khi Bộ sách ra mắt năm học 2021 – 2022. Bỏ qua các yếu tố nghệ thuật, ngữ nghĩa và các vấn đề lùm xùm cá nhân của tác giả, có 1 điểm tôi không thích ở bài thơ này. Đó là câu “Sao không ăn mù tạt/ Đối diện thử thách đi” dạy trẻ con thử thách lòng can đảm là một điều hết sức nguy hiểm, tôi luôn dạy con là không được tham gia vào các trò chơi thử thách lòng can đảm vì những trò chơi như vậy luôn tiềm ẩn các nguy hiểm mà các con không kiểm soát được.
Tháng trước tôi cũng viết một bài so sánh ngữ liệu của sách giáo khoa cũ và sách giáo khoa mới, và đề nghị các nhóm tác giả biên soạn sách giáo khoa cần cẩn trọng hơn trong việc lấy ngữ liệu từ các nhà văn, nhà thơ trẻ. Bởi khi tác phẩm của tác giả được dùng làm ngữ liệu của sách giáo khoa, công chúng sẽ tìm đọc cả các tác phẩm khác của tác giả trong tuyển tập, hoặc toàn bộ các sáng tác của tác giả, nên nếu các tác phẩm khác của tác giả có vấn đề, thì tác phẩm, hoặc trích đoạn trong sách giáo khoa sẽ bị ảnh hưởng. Hoặc tác phẩm của tác giả ở thời điểm nhóm biên soạn lấy làm ngữ liệu trong sách giáo khoa không có vấn đề, nhưng những sáng tác sau đó của tác giả có vấn đề, hoặc tác giả có vấn đề thì sách giáo khoa cũng bị ảnh hưởng. Mà bản thân sách giáo khoa cần có sự ổn định, phổ quát trong một thời gian dài.
Nhưng câu chuyện “Bắt nạt” thực ra chạm đúng một vấn đề còn quan trọng hơn cả bản thân bài thơ: bắt nạt học đường, và ai là người dễ tổn thương nhất trong đó. Theo Từ điển Tiếng Việt, bắt nạt là “hành động cậy thế, cậy quyền hoặc cậy sức mạnh để dọa dẫm, ức hiếp, làm cho người khác phải sợ hãi”. Trong môi trường học đường, nhóm dễ trở thành mục tiêu nhất luôn là những học sinh có sự khác biệt rõ rệt so với số đông, và trẻ khuyết tật gần như luôn nằm trong nhóm đó. Một học sinh khiếm thính nói không rõ, một học sinh khuyết tật vận động di chuyển chậm hơn bạn bè, một học sinh tự kỷ có phản ứng khác thường trước tiếng ồn hay đám đông, tất cả đều dễ trở thành đối tượng bị trêu chọc, cô lập, thậm chí bị bắt chước dáng đi, giọng nói để cả lớp cười cợt. Khác với bắt nạt thể chất dễ nhận ra qua vết bầm, vết xước, kiểu bắt nạt này thường âm thầm hơn: trẻ bị loại khỏi nhóm chơi chung, bị gán biệt danh chế giễu, bị phớt lờ trong các hoạt động nhóm. Hậu quả không hiện ra ngay, nhưng tích tụ thành sự tự ti, sợ đến trường, và trong một số trường hợp cực đoan, trở thành gốc rễ của những tổn thương tâm lý lâu dài mà nhiều năm sau vẫn chưa lành. Đây cũng là lý do vì sao gia đình luôn cần là điểm tựa đầu tiên, thay vì để trẻ tự xoay xở một mình hay tìm đến những không gian mạng xã hội thiếu kiểm soát để giải tỏa.
Phần Lan, từ năm 2009, triển khai chương trình chống bắt nạt học đường mang tên KiVa do Đại học Turku phát triển, hiện đã được UNESCO ghi nhận là một trong những chương trình chống bắt nạt được nghiên cứu bài bản và hiệu quả nhất thế giới, đang được áp dụng tại hơn 40% trường học phổ thông ở Phần Lan và nhân rộng sang Hà Lan, Ý, Chile, New Zealand, Estonia. Điểm cốt lõi của KiVa không chỉ là xử lý khi có vụ việc xảy ra, mà tập trung vào phòng ngừa: dạy học sinh kỹ năng nhận diện và không im lặng khi chứng kiến bạn bị bắt nạt, thay vì chỉ trông chờ vào phản ứng của giáo viên. Nhật Bản, sau làn sóng học sinh tự tử vì bị bắt nạt gây chấn động dư luận, đã ban hành riêng một đạo luật về phòng chống bắt nạt học đường từ năm 2013, buộc mỗi trường phải có quy trình phát hiện và can thiệp cụ thể, hiện đang thử nghiệm phiên bản KiVa tiếng Nhật tại Đại học Osaka.
Từ những kinh nghiệm đó, có thể rút ra vài việc làm được ngay ở cấp trường, cấp lớp tại Việt Nam. Giáo viên chủ nhiệm nên chủ động quan sát và trò chuyện riêng với những học sinh có nguy cơ cao bị cô lập, đặc biệt là học sinh khuyết tật học hòa nhập, thay vì chờ phụ huynh phản ánh mới xử lý. Nhà trường có thể tổ chức những buổi sinh hoạt lớp ngắn để học sinh hiểu về sự khác biệt và học cách lên tiếng khi thấy bạn bị bắt nạt, thay vì im lặng hoặc hùa theo. Với gia đình có con là nạn nhân, điều quan trọng nhất là tạo không gian để trẻ dám kể lại chuyện xảy ra ở trường, và phản ứng bình tĩnh, không đổ lỗi ngược cho con. Với chính các bậc phụ huynh, khi đọc cùng con những bài học có chi tiết dễ gây hiểu lầm như câu thơ nói trên, hoàn toàn có thể chủ động giải thích thêm, biến nó thành cơ hội trò chuyện về ranh giới giữa can đảm thật sự và liều lĩnh nguy hiểm.
Một bài thơ trong sách giáo khoa rồi sẽ có người khen người chê, nhưng vấn đề bắt nạt học đường thì không thể chờ đến khi có tranh cãi mới nhắc đến. Rất mong được nghe câu chuyện thực tế từ các anh chị đang là giáo viên, phụ huynh, hoặc chính người từng trải qua bắt nạt học đường thời đi học: theo anh chị, điều gì thực sự giúp một đứa trẻ dễ tổn thương nhất trong lớp cảm thấy an toàn hơn? Rất mong mọi người cùng chia sẻ, góp ý để lan tỏa những cách làm tử tế và thiết thực.
Gửi tin nhắn tới ban tổ chức